Tag: vitamin E

Ứng dụng của Vitamin E trong điều trị bệnh lý

Vitamin E là tên gọi chung của những “tocopherol” và có bốn dạng khác nhau. Nó là một chất chống oxy hoá hòa tan chất béo, có thể được sử dụng rộng rãi dưới dạng viên nang Vitamin E hoặc các thực phẩm bổ sung có chứa Vitamin E khác. Các lợi ích về sức khoẻ được biết đến rộng rãi nhất của vitamin E là nâng cao và cải thiện sức đề kháng của cơ thể từ đó làm giảm tác hại của bệnh tật. Những tác động tích cực của nó lên các bệnh nhân mắc hội chứng tiền kinh nguyệt, rối loạn mắt như đục thủy tinh thể, các bệnh thần kinh như bệnh Alzheimer và trên bệnh tiểu đường đã được công nhận rộng rãi.

Vitamin E trong điều trị bệnh
Vitamin E trong điều trị bệnh

Đại cương về ứng dụng của Vitamine E trong điều trị

Lợi ích sức khoẻ của vitamin E đến từ các đặc tính chống oxy hóa. Chất chống oxy hoá loại bỏ các gốc tự do – các hợp chất không ổn định làm hư cấu trúc tế bào. Mức độ miễn dịch cải thiện khi vitamin E được tăng cường đã được chứng minh. Một lợi ích quan trọng khác của vitamin E là làm giảm cholesterol và nguy cơ phát triển ung thư. Một số người sử dụng vitamin E để điều trị và phòng ngừa bệnh tim và mạch máu bao gồm xơ vữa động mạch, thuyên tắc động mạch ngoại biên và huyết áp cao.

Vitamin E trong điều trị bệnh
Vitamin E trong điều trị bệnh

Vitamin E cũng được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường và các biến chứng của nó. Nó được sử dụng để ngăn ngừa ung thư đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vòm họng ở người hút thuốc lá. Ung thư đại trực tràng, polyp đại tràng, ung thư dạ dày, tuyến tiền liệt và tụy cũng được nhắc đến. Một số người sử dụng vitamin E nhằm cải thiện các bệnh về não và hệ thần kinh bao gồm bệnh Alzheimer, các chứng mất trí, bệnh Parkinson, chứng chuột rút về đêm, hội chứng lo âu và động kinh. Vitamin E cũng được sử dụng cho các rối loạn khác liên quan đến dây thần kinh và cơ. Phụ nữ sử dụng vitamin E để dự phòng các biến chứng trong giai đoạn cuối của thai kỳ do huyết áp cao (tiền sản giật), hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) và các triệu chứng của hội chứng tiền mãn kinh.

Đôi khi vitamin E được sử dụng để làm giảm tác hại của các phương pháp điều trị y tế như lọc máu qua màng bụng(thẩm phân phúc mạc) và xạ trị ung thư . Nó cũng được sử dụng để giảm các tác dụng phụ không mong muốn của các thuốc hóa trị ung thư như rụng tóc ở những người dùng doxorubicin và tổn thương phổi ở những người dùng amiodarone. Vitamin E đôi khi được sử dụng để nâng cao độ dẻo dai cho cơ bắp, giảm tổn thương cơ sau khi tập thể lực cường độ cao. Vitamin E cũng được sử dụng ở các bệnh nhân đục thủy tinh thể, hen xuyễn, viêm đường hô hấp, rối loạn da, lão hóa da, cháy nắng, xơ nang, vô sinh, bất lực, hội chứng mệt mỏi mãn tính, loét dạ dày, bệnh di truyền và phòng ngừa dị ứng.

Một số người bôi vitamin E trên da để giữ cho da khỏi lão hóa và để bảo vệ chống lại các tác động xấu đến da của các hóa chất điều trị ung thư (hóa trị liệu). Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo sử dụng các chất chống oxy hoá (bao gồm vitamin E) bằng chế độ ăn lành mạnh với trái cây, rau quả và ngũ cốc nguyên hạt tốt hơn là từ các viên nang bổ sung Vitamin được sản xuất dưới dạng thực phẩm chức năng.

Vitamin E hoạt động như thế nào ?

Vitamin E là một vitamin quan trọng cần thiết cho chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể. Nó cũng là một chất chống oxy hoá. Điều này có nghĩa là nó giúp làm chậm quá trình tổn thương các tế bào. 

Những tác dụng thực tế của Vitamin E

A. Hiệu quả điều trị chắc chắn của Vitamin E:

Thiếu Vitamin E: Dùng vitamin E qua đường uống có hiệu quả trong việc ngăn ngừa và điều trị thiếu hụt vitamin E.

B. Hiệu quả điều trị được ghi nhận tốt của Viatamin E

1. Bệnh Alzheimer:

Vitamin E có thể làm chậm sự mất trí nhớ ở những người bệnh Alzheimer nghiêm trọng vừa phải. Vitamin E cũng có thể làm trì hoãn sự mất độc lập và sự cần thiết của người chăm sóc cho những bệnh Alzheimer từ nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, vitamin E dường như không ngăn được chuyển từ các vấn đề về trí nhớ nhẹ sang bệnh Alzheimer.

2. Thiếu máu

Một số nghiên cứu cho thấy rằng dùng vitamin E cải thiện đáp ứng với thuốc erythropoietin là yếu tố thúc đẩy sự tạo lập hồng cầu ở tủy xương. Đặc biệt tác dụng này tăng cao ở người lớn và trẻ em đang điều trị thẩm tách máu. Dùng vitamin E đường uống có vẻ có lợi cho trẻ thiếu máu do bệnh beta-thalessemia.

3. Ung thư bàng quang

Uống 200 IU vitamin E trong hơn 10 năm dường như giúp giảm thiểu tử vong do ung thư bàng quang và sự rò rỉ thuốc hóa trị liệu vào mô xung quanh. 

4.Chứng mất trí

Nghiên cứu cho thấy những người đàn ông uống vitamin E và vitamin C có nguy cơ mắc bệnh sa sút trí tuệ giảm xuống. Tuy nhiên, nó không làm giảm nguy cơ mắc chứng mất trí của bệnh Alzheimer.

5. Thống kinh.

Uống vitamin E trong 2 ngày trước và trong 3 ngày sau bắt đầu có kinh có vẻ giảm mức độ và thời gian đau đồng thời làm giảm lượng máu mất trong chu kì.

6. Các vấn đề về thận ở trẻ em xơ vữa mạch máu

Có một số bằng chứng cho thấy uống vitamin E qua đường uống có thể cải thiện chức năng thận ở trẻ bị chứng xơ vữa mạch máu.

7. Thiếu men G6PD di truyền

Một số nghiên cứu cho thấy uống vitamin E đường uống một mình hoặc cùng với kẽm có thể có lợi cho những người bị rối loạn thiếu men G6PD di truyền.

8. Bệnh Huntington

Vitamin E tự nhiên (RRR-alpha-tocopherol) có thể cải thiện triệu chứng ở những người bệnh Huntington sớm. Tuy nhiên, nó dường như không giúp những người đã mắc bệnh nặng và lâu dài.

9. Vô sinh nam

Dùng vitamin E qua đường uống cải thiện tỷ lệ vô sinh cho nam giới. Uống liều cao vitamin E cùng với vitamin C dường như không mang lại những lợi ích như nhau.

10. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu.

Dùng vitamin E mỗi ngày dường như cải thiện triệu chứng của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ở người lớn và trẻ em.

11. Bệnh Parkinson

Các bằng chứng sớm cho thấy lượng vitamin E trong khẩu phần có thể liên quan đến giảm nguy cơ bệnh Parkinson. Tuy nhiên, uống vitamin E tổng hợp dường như không có bất kỳ lợi ích cho những người có bệnh Parkinson.

4. Hoại tử thần kinh liên quan đến hóa trị

Dùng vitamin E (alpha-tocopherol) trước và sau khi hóa trị bằng hóa trị cisplatin có thể làm giảm nguy cơ tổn thương thần kinh.

13. Phẫu thuật mắt bằng laser

Dùng liều cao vitamin A cùng với vitamin E (alpha-tocopheryl nicotinate) hàng ngày dường như cải thiện việc điều trị và thị lực ở những người trải qua phẫu thuật laser.

14. Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS).

Dùng vitamin E qua đường uống dường như làm giảm lo lắng, ham muốn tình dục quá mức và trầm cảm ở một số phụ nữ có Hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS) nặng.

15. Hoạt động thể chất ở người cao tuổi

Nghiên cứu cho thấy việc tăng lượng vitamin E trong khẩu phần có liên quan đến cải thiện hoạt động thể chất và sức mạnh cơ bắp ở người cao tuổi.

16. Xơ hóa do phóng xạ gây ra

Dùng vitamin E qua đường uống cùng với thuốc pentoxifylline dường như để điều trị chứng xơ hóa do phóng xạ gây ra. Tuy nhiên, dùng vitamin E một mình dường như không có hiệu quả.

17. Bệnh lý võng mạc ở trẻ sơ sinh non tháng.

Dùng vitamin E qua đường uống có vẻ hiệu quả trong điều trị bệnh võng mạc do non tháng ở trẻ sơ sinh.

18. Viêm khớp dạng thấp.

Vitamin E được thực hiện cùng với phương pháp điều trị tiêu chuẩn tốt hơn so với điều trị tiêu chuẩn đơn thuần để giảm đau ở người bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, sự kết hợp này không làm giảm sưng khớp.

19. Cháy nắng.

Liều cao vitamin E (RRR-alpha-tocopherol) đường uống cùng với vitamin C bảo vệ da sau khi phơi nhiễm với tia UV. Tuy nhiên, chỉ riêng vitamin E không mang lại lợi ích như khi kết hợp. Bôi vitamin E cùng với vitamin C và melatonin cung cấp một lá chắn bảo vệ và nên sử dụng trước khi tiếp xúc với tia cực tím.

20. Viêm màng bồ đào

Dùng vitamin E với vitamin C đường uống dường như cải thiện thị lực nhưng không làm giảm sưng ở những người bị viêm màng bồ đào.

Vitamin E trong điều trị bệnh
Vitamin E trong điều trị bệnh

C. Hiệu quả điều trị không chắc chắn của Vitamin E

1. Mất thị lực liên quan đến tuổi tác (thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác)

Phần lớn các nghiên cứu cho thấy dùng vitamin E, một mình hoặc cùng với các chất chống oxy hoá khác, không có hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị mất thị lực liên quan đến tuổi tác.
2. Bệnh thoái hóa thần kinh (ALS)

Nghiên cứu cho thấy dùng vitamin E (alpha-tocopherol) cùng với các thuốc thông thường không ảnh hưởng đến chức năng hoặc tăng tỉ lệ sống sót so với các thuốc thông thường ở người bị bệnh Lou Gherig.
3. Cơn đau thắt ngực ( Bệnh mạch vành mạn)

Dùng vitamin E qua đường uống có thể có ảnh hưởng đến chức năng của mạch máu, nhưng dường như không làm giảm đau ngực.
4. Xơ vữa động mạch

Dùng vitamin E (RRR-alpha-tocopherol) qua đường uống dường như không ngăn được sự tiến triển của chứng xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, có một số bằng chứng sớm rằng uống vitamin E và vitamin C có thể giúp ngăn ngừa sự tiến triển của chứng xơ vữa động mạch ở nam giới.
5. Da đỏ và ngứa (eczema)

Nghiên cứu cho thấy rằng uống vitamin E, một mình hoặc cùng với selenium, không cải thiện triệu chứng bệnh chàm.
6. Bốc hỏa liên quan đến ung thư vú

Dùng vitamin E qua đường uống dường như không làm giảm những cơn nóng giận ở những phụ nữ bị ung thư vú.
7. Tình trạng loạn sản phổi ở trẻ sơ sinh (loạn sản phế quản phổi)

Nghiên cứu cho thấy uống vitamin E qua đường uống không có lợi cho trẻ sơ sinh có loạn sản phế quản phổi.
8. Ung thư nói chung

Kết hợp vitamin E, vitamin C, beta carotene, selenium và kẽm dường như không làm giảm nguy cơ ung thư nói chung. Tuy nhiên, nó có thể làm giảm nguy cơ ung thư ở nam giới, mặc dù bằng chứng là mâu thuẫn.
9. Ung thư đại trực tràng

Hầu hết các bằng chứng cho thấy uống vitamin E không ngăn ngừa sự xuất hiện của ung thư đại trực tràng hoặc sự phát triển các khối u trực tràng không ung thư, được coi là tiền thân của ung thư ruột kết.
10.Suy tim

Uống vitamin E qua miệng trong 12 tuần dường như không cải thiện được chức năng của tim ở những người bị suy tim.

11. Loạn dưỡng cơ Duchenne

Nghiên cứu cho thấy dùng vitamin E với penicillamine thuốc không làm chậm sự tiến triển của các bệnh Loạn dưỡng cơ Duchenne.
12. Ung thư cổ tử cung

Dùng vitamin E (all-rac-alpha-tocopherol) hàng ngày trong suốt quá trình xạ trị và 3 năm sau khi kết thúc điều trị dường như không làm giảm nguy cơ tái phát ung thư cổ tử cung. Có một số lo ngại rằng uống vitamin E có thể làm tăng nguy cơ tái phát khối u. Những người bị ung thư cổ tử cung cần tránh bổ sung vitamin E hàng ngày với liều lượng trên 400 IU mỗi ngày.
13. Thiếu máu tán huyết

Việc cung cấp vitamin E cho trẻ sơ sinh non tháng không có tác dụng có lợi đối với sự phân hủy hồng cầu bất thường.
14. Huyết áp cao

Dùng vitamin E qua đường uống dường như không làm giảm huyết áp ở những người đã dùng thuốc huyết áp.
15. Bệnh gan

Dùng vitamin E không làm giảm nguy cơ tử vong ở người bị bệnh gan.

16. Viêm xương khớp

Dùng vitamin E dường như không giảm đau hoặc cứng ở người bị viêm xương khớp. Vitamin E cũng dường như không ngăn được tình trạng trở nên tồi tệ hơn.
17. Ung thư tụy

Uống vitamin E, một mình hoặc cùng với các chất chống oxy hoá khác như beta-carotene và vitamin C, dường như không làm giảm nguy cơ bị ung thư tuyến tụy.
18. Ung thư hầu họng

Nghiên cứu cho thấy những người bị tiểu đường uống vitamin E (RRR-alpha-tocopherol) đường uống không giảm được nguy cơ phát triển ung thư miệng hoặc họng.
19. Tiền sản giật

Hầu hết các bằng chứng cho thấy dùng kết hợp vitamin E và C không làm giảm nguy cơ cao huyết áp trong thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy việc kết hợp các vitamin E và C hàng ngày làm giảm nguy cơ cao huyết áp ở phụ nữ có nguy cơ cao khi bắt đầu trong tuần 16 đến 22 của thai kỳ.
20. Ung thư tuyến tiền liệt

Nghiên cứu về ảnh hưởng của vitamin E đối với nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến đã không nhất quán. Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy uống bổ sung vitamin E không làm giảm nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt và thực sự có thể làm tăng nguy cơ.

Vitamin E trong điều trị bệnh
Vitamin E trong điều trị bệnh

C.  Vitamin E không hiệu quả trong điều trị đối với

1. Bệnh vú lành tính

Dùng bổ sung vitamin E dường như không có hiệu quả để điều trị bệnh vú lành tính.
2. Ung thư vú

Mặc dù hàm lượng vitamin E trong máu cao hơn có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú nhưng việc tăng lượng vitamin E từ chế độ ăn uống hoặc chất bổ sung không làm giảm nguy cơ bị ung thư vú.
3. Bệnh tim

Hầu hết các nghiên cứu cho thấy uống bổ sung vitamin E không ngăn ngừa bệnh tim. Tuy nhiên, một số bằng chứng cho thấy việc tăng lượng vitamin E trong khẩu phần có thể có lợi.
4. Ung thư phổi

Uống vitamin E tổng hợp trong 8 năm không làm giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư phổi ở những người hút thuốc lá. Ngoài ra, uống vitamin E (alpha-tocopherol) trong 10 năm không ngăn được ung thư phổi hoặc giảm nguy cơ tử vong do ung thư phổi.
5. Tỷ lệ tử vong nói chung

Nghiên cứu cho thấy rằng uống vitamin E hàng ngày hoặc mỗi ngày khác trong tối đa 10 năm không làm giảm nguy cơ tử vong vì bất kỳ nguyên nhân nào. Hơn nữa, một số nghiên cứu cho thấy rằng thường xuyên uống liều cao vitamin E có thể làm tăng nguy cơ tử vong.

Vitamin E trong điều trị bệnh
Vitamin E trong điều trị bệnh

D. Hiệu quả điều trị còn đang tranh cãi:

1. Hen suyễn

Có bằng chứng không nhất quán về vai trò của vitamin E trong bệnh suyễn. Một số nghiên cứu cho thấy tiêu thụ nhiều vitamin E hơn trong chế độ ăn kiêng dường như ngăn ngừa bệnh hen suyễn. Tuy nhiên, việc bổ sung vitamin E không có cùng lợi ích trên.
2. Đục thủy tinh thể

Một số bằng chứng cho thấy uống vitamin E một mình hoặc cùng với các vitamin khác hoặc các chất chống oxy hoá khác không ngăn cản sự phát triển của đục thủy tinh thể. Tuy nhiên, các bằng chứng khác cho thấy vitamin E có thể giúp làm giảm nguy cơ bị đục thủy tinh thể.
3. Nhiễm trùng liên quan đến hóa trị

Các nghiên cứu cho thấy việc gia tăng vitamin E trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ nhiễm bệnh ở trẻ đang được hóa trị.
4. Bệnh tiểu đường

Vitamin E có thể có lợi cho những người mắc bệnh tiểu đường. Một số nghiên cứu cho thấy vitamin E cải thiện sự kiểm soát lượng đường trong máu. Các nghiên cứu khác cho thấy lượng vitamin E trong khẩu phần có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
5. Ung thư dạ dày

Dùng vitamin E cộng với beta-carotene hoặc vitamin C dường như không ngăn được ung thư dạ dày. Tuy nhiên, có một số bằng chứng hạn chế rằng việc tiêu thụ nhiều vitamin E từ chế độ ăn uống có thể làm chậm sự tiến triển của ung thư dạ dày.
6. Cholesterol máu cao

Một số nghiên cứu ban đầu cho thấy uống vitamin E với vitamin C có thể có lợi cho trẻ em bị cholesterol cao.
7. Bệnh thận IgA (Tiểu máu đại thể lành tính bẩm sinh)

Nghiên cứu ban đầu cho thấy dùng vitamin E có thể cải thiện chức năng thận ở trẻ bị bệnh thận IgA.
8. Chấn thương thứ phát do thiếu máu cục bộ sau phẫu thuật

Vitamin E đường uống kết hợp với vitamin C và thuốc thông thường hai ngày trước khi phẫu thuật và một ngày sau phẫu thuật dường như làm giảm các biến chứng do thiếu máu cục bộ. Tuy nhiên, vitamin E dường như không có lợi khi dùng đơn độc.
8. Nhồi máu não

Có một số bằng chứng cho thấy tất cả các vitamin E tổng hợp có thể giúp ngăn ngừa đột quỵ ở những nam giới hút thuốc có huyết áp cao và mắc tiểu đường. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy nó có thể không làm giảm nguy cơ đột quỵ.
9. Sau ghép cơ quan

Dùng vitamin E (tocopheryl succinate polyethylene glycol) có thể làm giảm liều thuốc ức chế miễn dịch cần thiết sau khi ghép gan.
10. Ung thư da (u hắc tố)

Một số bằng chứng cho thấy uống vitamin E (RR-alpha-tocopherol) hàng ngày không làm giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư da.
11. Chuột rút về đêm

Bằng chứng sớm cho thấy vitamin E có thể làm giảm chứng chuột rút về đêm. Tuy nhiên, bằng chứng khác cho thấy nó không có hiệu quả.
12. Bệnh hồng cầu lưỡi liềm

Bằng chứng sớm cho thấy dùng vitamin E với chiết xuất tỏi già và vitamin C có thể có ích cho thiếu máu hồng cầu liềm.

Search Written